Chị trở thành tấm gương sáng ngời cho bao thế hệ sau noi theo. Chị chính là nhà giáo, nữ anh hùng Lê Thị Bạch Cát.
Chân dung nhà giáo Bạch Cát
CÁT BIỂN HÓA KIM CƯƠNG- HUYỀN THOẠI VỀ NGƯỜI CON GÁI Ở LÀNG CHÀI CỬA LÒ
Tôi đứng trước biển, hít căng lồng ngực mùi mặn mòi của gió. Cửa Lò đang vào độ cuối hè đầu thu, những con sóng bạc đầu miên man vỗ về bờ cát như đang rì rầm kể quê hương. Nhìn bờ cát trắng trải dài lòng tôi chùng xuống và bỗng nhớ về chị - hạt cát trắng Nghi Thủy bình dị nhưng ẩn chứa một sức mạnh kiên cường. Hạt cát ấy đã hóa kim cương, lấp lánh trong trang sử vàng của xứ Nghệ quê tôi. Chị là người con út gia đình nhà nho làng chài, đã sống một cuộc đời sôi nổi, đầy say mê, nỗ lực và tinh thần yêu nước bất khuất. Chị trở thành tấm gương sáng ngời cho bao thế hệ sau noi theo. Chị chính là nhà giáo, nữ anh hùng Lê Thị Bạch Cát.
Thủa ấy, Nghi Thủy còn là một làng chài nghèo, những mái tranh liêu xiêu nép mình bên bờ sóng. Lê Thị Bạch Cát, sinh ngày 10/10/1940, là con út trong một gia đình mà cha là ông Lê Viết Thanh – một ông giáo trường làng, mang trong mình dòng máu yêu nước nồng nàn, từng giao lưu với tổ chức Tân Việt. Mẹ chị, bà Bùi Thị Tranh, là người phụ nữ tảo tần, đôi tay chai sạn vì vá lưới mưu sinh. Lớn lên trong tiếng sóng vỗ về, trong câu hát ru của mẹ và những bài học về đạo lý, về non sông đất nước từ cha, Bạch Cát sớm thấu hiểu cảnh trẻ em quê mình khát chữ. Ánh mắt chị trong veo như nước biển buổi sớm, nhưng sâu thẳm lại ẩn chứa ngọn lửa của tri thức và khát khao gieo mầm ánh sáng.
Ước mơ cháy bỏng ấy đã chắp cánh cho cô bé Cát vươn xa. Năm 1958, chị thi đậu xuất sắc vào Trường Trung cấp Sư phạm Nghệ An và nhanh chóng trở thành một giáo viên tận tâm tại Trường cấp 1 Nghi Tân. Không dừng lại ở đó, với tài năng nổi trội về văn thể, chị tiếp tục con đường học vấn tại Trường Sư phạm Thể dục Thể thao Trung ương. Hai năm miệt mài rèn luyện, chị tốt nghiệp xuất sắc và vinh dự được giữ lại làm giảng viên, rồi sau đó trở về cống hiến tại chính mảnh đất xứ Nghệ, giảng dạy tại Trường Đại học Sư phạm Vinh và kiêm nhiệm tại Trường cấp 3 Huỳnh Thúc Kháng. Chị là một trong những người tiên phong, đặt nền móng cho khoa Giáo dục Thể chất tại Đại học Vinh.
Cô giáo Bạch Cát không chỉ giỏi chuyên môn mà còn mang tấm lòng của một người con thảo hiền. Những ngày nghỉ, chị không ngần ngại vội vã về lại làng chài Nghi Thủy, đôi tay trắng ngần của giảng viên lại thoăn thoắt vá lưới, nướng cá, chăm sóc mẹ già ốm yếu. Giọng hát trong trẻo của chị, những điệu múa uyển chuyển của một người làm công tác thể chất, đã trở thành niềm vui, niềm tự hào của xóm làng. Chị là hiện thân của vẻ đẹp người con gái xứ Nghệ: dung dị, tài năng và vẹn tròn chữ hiếu, chữ tình. Ngày 5/10/1964, một dấu mốc quan trọng trong cuộc đời chị, Lê Thị Bạch Cát vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Lao động Việt Nam, nguyện cống hiến trọn đời cho lý tưởng.
Nhưng rồi, khi cánh cửa tương lai tươi sáng của sự nghiệp sư phạm mới hé mở được hai năm, cũng là lúc tiếng bom Mỹ gầm thét, chiến trường miền Nam khốc liệt hơn bao giờ hết. Ngọn lửa yêu nước trong trái tim người con gái xứ biển đã bùng cháy thiêu đốt mọi ước mơ cá nhân. Với tinh thần của phong trào "Ba sẵn sàng" - "sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng gia nhập lực lượng vũ trang", với lời thơ "Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ / Hơn nghìn trang giấy luận văn chương", nữ giảng viên, đảng viên trẻ Lê Thị Bạch Cát đã viết một bức quyết tâm thư bằng máu gửi lên Bộ Giáo dục, gửi lên Trung ương Đoàn. Từng giọt máu thấm trên trang giấy như lời thề sắt son: "Con nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân, hiến dâng cả mạng sống mình cho Tổ quốc!".
Tháng 4/1964, ước nguyện cao cả ấy được chấp thuận. Chị lên đường "đi B" (vào Nam chiến đấu), vượt Trường Sơn đại ngàn, mang theo bí danh Sáu Xuân. Đó là một hành trình xẻ dọc dãy núi, ròng rã 86 ngày đêm gian khổ, băng rừng, lội suối, đối mặt với đói khát và hiểm nguy. Khi đặt chân đến căn cứ Trung ương Cục ở chiến khu Dương Minh Châu, Tây Ninh, chị được phân công về chiến trường Sài Gòn - Gia Định với biệt danh Y4, hoạt động trong lực lượng biệt động nội thành. Chị được đồng chí Trần Trọng Tân (Hai Tân) trực tiếp hướng dẫn công tác trí vận (vận động giới trí thức).
Từ đây, cuộc đời chị rẽ sang một trang khác, đầy cam go nhưng cũng rực rỡ khí phách anh hùng. Để có vỏ bọc hợp pháp hoạt động trong lòng địch, cô giáo Bạch Cát phải hóa thân thành thợ may, người làm nón, rồi tảo tần bán rau cải, chanh ớt nơi chợ búa Sài Gòn. Mỗi mũi kim, mỗi gánh hàng rong là một nhiệm vụ, là một nhịp cầu thu thập tin tức, gây dựng cơ sở cách mạng. Hẻm 83 Đề Thám, một con hẻm nhỏ giữa lòng Sài Gòn hoa lệ, đã trở thành một trong những điểm hẹn bí mật, nơi chị cùng đồng đội cất giữ vũ khí, tập kết lực lượng, âm thầm chờ thời khắc lịch sử của Tết Mậu Thân 1968. Ông Nguyễn Chí Nhân (Hai Nhân), một đồng đội thân thiết, bồi hồi kể lại: "Sở dĩ cô Bạch Cát chọn địa điểm này làm nơi xuất kích, là nhằm tấn công vào ty cảnh sát quốc gia ở 72 Yersin". Từng chi tiết nhỏ ấy vẽ nên một bức tranh chân thực về sự mưu trí, dũng cảm của người chiến sĩ biệt động.
Không chỉ là chiến sĩ, chị còn là người cô giáo, người truyền cảm hứng bất tận. Trong các lớp học đặc biệt dành cho trí thức yêu nước từ nội thành vào chiến khu, với trách nhiệm và nhiệt huyết của tuổi trẻ, cô giáo Lê Thị Bạch Cát đã cảm hóa, thu phục, cuốn hút, truyền cảm hứng cho các học viên. Giọng hát trong trẻo của chị lại vang lên trong rừng sâu, dạy những bài ca kháng chiến, gieo vào lòng người hạt giống của lòng yêu nước và ý chí đấu tranh. Đặc biệt, vào tháng 12/1965, Thành ủy tin tưởng giao cho chị một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng: lên Đà Lạt làm điệp báo hoạt động đơn tuyến. Giữa thành phố ngàn hoa, nơi mật vụ địch dày đặc, chị đã khéo léo biến hóa, từ một cô giáo giản dị trở thành một người Đà Lạt thực thụ trong cách nói, cách làm, để vừa hoạt động công khai vừa bí mật. Chỉ trong thời gian ngắn, chị đã xây dựng được hơn 40 cơ sở bí mật, đào tạo 10 du kích mật, và tổ chức được Hội nhân dân, sinh viên, học sinh đòi dân chủ trong các trường học, khu phố. Chị cùng đồng chí đã vận động tổ chức nhiều cuộc biểu tình lớn của sinh viên, học sinh Đà Lạt. Có cuộc biểu tình quy tụ hơn 5.000 người xuống đường, thậm chí đã chiếm Đài Phát thanh Đà Lạt, gây tiếng vang lớn, chấn động cả vùng địch. Chiếc Honda 67 chị dùng để đi lại, chiếc xe đã chứng kiến bao chuyến đi đầy hiểm nguy nhưng cũng đầy tự hào của người nữ điệp báo.
Cuối năm 1965, chị được điều động về bổ sung vào lực lượng biệt động vũ trang tuyên truyền của Sài Gòn - Gia Định. Chị mang căn cước mới tên Đinh Thị Lan, nhưng đồng đội vẫn thân mật gọi chị là Cô Sáu, Chị Sáu Xuân. Với vỏ bọc là thợ may, thợ thu gom bao bì, người bán rau ở các chợ, chị đã xây dựng được hơn 10 cơ sở bí mật ở các quận 2, 3, 4, có cơ sở ra tận Thủ Đức.
Tháng 11/1967, chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, chị Sáu Xuân được bổ sung vào Quận ủy viên, Bí thư Quận đoàn trực tiếp lãnh đạo Chi bộ võ trang tuyên truyền liên quận 2 và 4. Chị đã trực tiếp chỉ huy đội vũ trang tuyên truyền Quận 4, cùng nhân dân nổi dậy vũ trang chiến đấu, đánh địch ở các khu vực Phạm Ngũ Lão, bến Chương Dương, bến Vân Đồn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, treo cao cờ Mặt trận, nhiều địa điểm các quận trung tâm trong đêm Giao thừa Mậu Thân.
Và rồi, sáng ngày 5/5/1968, một ngày định mệnh. Tại mặt trận Đề Thám - Cô Bắc - Cô Giang, chị Lê Thị Bạch Cát cùng đội vũ trang tuyên truyền đã chiến đấu anh dũng. Khi cảnh sát dã chiến và cảnh sát quận 2 cũ bao vây toàn bộ khu vực, một tiểu đoàn cảnh sát dã chiến nã đạn xuống xối xả, chị vẫn bình tĩnh chỉ huy đồng đội chiến đấu cầm cự nhiều giờ đồng hồ. Giữa làn đạn bom ác liệt, chị vẫn kiên cường hô hào nhân dân nổi dậy, phân phát truyền đơn. Nhận thấy sự chênh lệch lực lượng quá lớn, để bảo toàn đồng đội, chị đã ra lệnh: "Các đồng chí đi ngay, cải trang và rút lui nhanh, về nói với các đồng chí mình tôi ở lại chiến đấu đến hơi thở cuối cùng". Người nữ chiến sĩ kiên cường ấy đã ở lại, dùng súng và lựu đạn ngoan cường chống trả đến viên đạn cuối cùng. Trước lúc hy sinh, khi bị trọng thương, chị vẫn dõng dạc hô to: "Đả đảo đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh muôn năm!". Tiếng hô ấy, như một lời sấm sét giữa chiến trường, là minh chứng cho tinh thần bất khuất không bao giờ đầu hàng. Bọn giặc căm giận vì không bắt sống được chị, đã mang thi thể chị đi thủ tiêu. Đến nay, phần mộ của chị vẫn chưa được tìm thấy. Chị hy sinh khi tuổi đời vừa tròn 28, một đóa hoa anh đào vừa hé nụ đã vội tàn để dâng hiến cho mùa xuân độc lập.
Nỗi đau mất mát ấy không thể dập tắt ngọn lửa anh hùng mà chị đã thắp lên. Liệt sĩ Lê Thị Bạch Cát, một nhà giáo, một nữ biệt động tài giỏi, mưu trí, dũng cảm, đã được ghi danh là tấm gương tiêu biểu. Ông Nguyễn Hữu Dũng, thủ trưởng trực tiếp của chị, từng nói với niềm tự hào sâu sắc: "Trong dòng máu của Lê Thị Bạch Cát có dòng máu yêu nước của thầy giáo Nguyễn Tất Thành, của quê hương Bác Hồ". Ông Phạm Chánh Trực, một đồng đội từng kề vai sát cánh, nhận xét đầy trìu mến: "Chị Sáu Xuân là người bản lĩnh, năng động, hoạt bát... sống trách nhiệm cao với tập thể, hòa nhã với mọi người, vui vẻ, hay hát và hát hay". Bà Nguyễn Thanh Hiền, nữ biệt động Sài Gòn, xúc động kể: "Chị Sáu Xuân là người miền Bắc, vượt Trường Sơn vô Nam hoạt động vô cùng gian khổ vậy mà vẫn hòa dịu, cảm hóa được nhiều người đi theo cách mạng. Chị Sáu Xuân đã ra lệnh cho mọi người rút lui để bảo toàn lực lượng còn mình ở lại cầm chân địch cho đến lúc hy sinh. Tấm gương chiến đấu của chị thật vô cùng gan dạ, dũng cảm”. Những lời ấy, như những lời thơ chân thành nhất, khắc họa rõ nét chân dung một người con gái xứ Nghệ vừa dũng cảm, vừa tài hoa, vừa tận tâm.
Sau ngày giải phóng, đất nước thống nhất, để ghi nhớ công lao trời biển của chị, nhiều nơi đã đặt tên chị cho đường phố và trường học. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, một con đường rợp bóng cây và một trường tiểu học ở Quận 11 mang tên Lê Thị Bạch Cát. Tuổi trẻ thành phố còn có sáng kiến đặt tên giải thưởng cho học sinh, đoàn viên trẻ có thành tích xuất sắc mang tên chị. Tại quê nhà Cửa Lò, năm 2000, Trường THCS Nghi Thủy được mang tên Lê Thị Bạch Cát – mái trường thân yêu nơi bao thế hệ học sinh được hun đúc tinh thần yêu nước từ tấm gương chị. Đặc biệt hơn, con đường đi ngang qua mảnh đất chị cất tiếng khóc chào đời, bên cạnh nhà thờ họ Lê có cây thị cổ thụ hàng trăm năm tuổi, nơi chị thường ngồi đánh thẻ, những năm thiếu thời, con đường dẫn ra cảng cá, nay cũng được mang tên Lê Thị Bạch Cát. Mỗi bước chân qua con đường ấy, mỗi ánh mắt nhìn về cây thị cổ kính, ta như thấy bóng dáng chị thấp thoáng, thấy cuộc đời chị hiển hiện.
Niềm vinh dự lớn lao nhất đã đến vào ngày 20/9/2024, khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký Quyết định truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân cho Liệt sĩ Lê Thị Bạch Cát. Đây là sự đền đáp xứng đáng cho cuộc đời và sự nghiệp cống hiến trọn vẹn của chị, là lời khẳng định hùng hồn của Tổ quốc cho sự hy sinh cao cả. Được tin nhà giáo - nữ biệt động Sài Gòn Lê Thị Bạch Cát được truy tặng danh hiệu Anh hùng, Trường Đại học Thể dục Thể thao Hà Nội cũng đã làm hồ sơ đề nghị đổi tên trường thành Trường Đại học Lê Thị Bạch Cát, một sự tri ân từ chính nơi chị đã từng gắn bó với sự nghiệp giáo dục.
Chị Lê Thị Bạch Cát, người con gái xứ biển, cô giáo xuất sắc và chiến sĩ kiên trung, mãi là niềm tự hào của quê hương Cửa Lò, của xứ Nghệ thân yêu. Cuộc đời chị là một bản hùng ca bất diệt, là lời nhắn nhủ thiêng liêng về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần cống hiến hết mình, đúng như lời bài hát "Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay". Chị là tấm gương sáng sống một cuộc đời có ích, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ánh sáng từ cuộc đời chị mãi mãi soi rọi, thổi bùng lên nguồn cảm hứng sống và cống hiến cho đất nước của những người trẻ hôm nay và mai sau. (Tác giả: Hà Thị Vinh Tâm- Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Nghệ An, SĐT: 0963347526)
Tác giả bài viết: Hà Vinh Tâm, Trường THPT Cửa Lò, Nghệ An